Cảnh sát giao thông có được rút chìa khóa xe của người vi phạm?

thitruongxe
12/04/26
5 view
Rate this post

Cảnh sát giao thông có được rút chìa khóa xe của người vi phạm?

Trong quá trình dừng phương tiện để kiểm tra, kiểm soát cũng như xử lý vi phạm, Cảnh sát giao thông (CSGT) có được rút chìa khóa xe không? Pháp luật hiện nay quy định ra sao về vấn đề này?

Mục lục bài viết[Ẩn]
  • 1. Yêu cầu đối với cán bộ Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ được quy định như thế nào?
  • 2. Rút chìa khóa xe người vi phạm có phải quyền của CSGT?
  • 3. Rút chìa khóa có phải biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính?
  • 4. Bị CSGT rút chìa khóa xe, khiếu nại thế nào?

1. Yêu cầu đối với cán bộ Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ được quy định như thế nào?

Theo Điều 3 Thông tư 73/2024/TT-BCA quy định yêu cầu đối với cán bộ Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm như sau:

– Thực hiện đúng quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được phân công, kế hoạch tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền ban hành; thực hiện dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, quy tắc ứng xử và Điều lệnh Công an nhân dân.

– Khi tiếp xúc với Nhân dân và người có hành vi vi phạm pháp luật phải có lễ tiết, tác phong, thái độ, văn hóa ứng xử đúng mực và phù hợp.

– Phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và hành vi vi phạm pháp luật khác theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định.

Cảnh sát giao thông có được rút chìa khóa xe của người vi phạm? (Ảnh minh hoạ)

2. Rút chìa khóa xe người vi phạm có phải quyền của CSGT?

Theo Điều 14 Thông tư 73/2024/TT-BCA quy định về quy trình kiểm soát như sau:

Khi phương tiện giao thông cần kiểm soát đã dừng vào vị trí theo hướng dẫn, cán bộ Cảnh sát giao thông được phân công làm nhiệm vụ kiểm soát đứng ở vị trí phù hợp, an toàn và thực hiện như sau:

– Đề nghị người điều khiển phương tiện giao thông thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và xuống phương tiện.

– Thực hiện chào theo Điều lệnh Công an nhân dân (trừ trường hợp biết trước người đó thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm, phạm tội quả tang, đang có quyết định truy nã, truy tìm). Khi tiếp xúc với người có hành vi vi phạm pháp luật, cán bộ Cảnh sát giao thông phải giữ đúng tư thế, lễ tiết, tác phong, có thái độ ứng xử đúng mực.

– Thông báo cho người điều khiển phương tiện giao thông biết về căn cứ dừng phương tiện để kiểm tra, kiểm soát; nội dung kiểm soát; đề nghị người điều khiển phương tiện giao thông xuất trình các giấy tờ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này để kiểm soát như sau:

  • Trường hợp người điều khiển phương tiện, chủ phương tiện xuất trình thông tin của các giấy tờ đã được tích hợp, cập nhật trong tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia, trong cơ sở dữ liệu do Bộ Công an quản lý, vận hành thì thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát thông qua thông tin trong tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia, cơ sở dữ liệu;

  • Trường hợp người điều khiển phương tiện, chủ phương tiện xuất trình bản giấy các giấy tờ thì tiến hành kiểm tra, đối chiếu trực tiếp các giấy tờ đó và thực hiện tra cứu thông tin liên quan đến giấy tờ đó trong cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính, cơ sở dữ liệu khác;

  • Thực hiện kiểm soát các nội dung theo quy định tại Điều 8 Thông tư này; đối với phương tiện giao thông chở người từ 09 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe), phương tiện giao thông chở người có kích thước tương đương với phương tiện giao thông chở người từ 09 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe), phải trực tiếp lên khoang chở người để thực hiện kiểm soát và thông báo kết quả kiểm soát.

  • Kết thúc kiểm soát, cán bộ Cảnh sát giao thông báo cáo Tổ trưởng về kết quả kiểm soát, thông báo cho người điều khiển phương tiện giao thông, những người có liên quan biết kết quả kiểm soát, hành vi vi phạm (nếu có) và biện pháp xử lý.

  • Khi có căn cứ cho rằng trong người tham gia giao thông, phương tiện vận tải, đồ vật có cất giấu tang vật, phương tiện, tài liệu được sử dụng để vi phạm hành chính thì được khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

  • Trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Như vậy, khi dừng phương tiện, CSGT chỉ được yêu cầu người vi phạm thực hiện hành vi (xuống xe, xuất trình giấy tờ…), không có quy định tự ý can thiệp trực tiếp vào phương tiện như rút chìa khóa.

3. Rút chìa khóa có phải biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính?

Các biện pháp ngăn chặn hành vi hành chính được quy định cụ thể tại Điều 119 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, số 15/2012/QH13 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 8 Điều 54 Luật Phòng, chống ma túy 2025, số 120/2025/QH15 bao gồm:

STT

Biện pháp

1

Tạm giữ người

2

Áp giải người vi phạm

3

Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

4

Khám người

5

Khám phương tiện vận tải, đồ vật

6

Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm

7

Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

8

Giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính

9

Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn.

Đối chiếu với bảng trên, hành vi rút chìa khóa xe của người vi phạm không phải biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính theo quy định.

Do đó, nếu CSGT rút chìa khóa xe của người điều khiển phương tiện và bảo rằng đây là biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm thì đây là hành vi hoàn toàn trái luật.

4. Bị CSGT rút chìa khóa xe, khiếu nại thế nào?

Theo Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, số 15/2012/QH13 quy định việc khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính như sau:

– Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

– Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

– Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.

Như vậy, khi có căn cứ cho rằng việc xử lý vi phạm của CSGT là không đúng quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người bị xử lý có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền.

Việc khiếu nại có thể tiến hành trực tiếp hoặc khiếu nại qua đơn theo Điều 8 Luật Khiếu nại 2011. Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày biết được hành vi hành chính.

Trền đây là thông tin về việc Cảnh sát giao thông có được rút chìa khóa xe của người vi phạm?…

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)

 

Source

Để lại một bình luận